tuyen sinh cao hoc

tuyen sinh daihoc

 

 

tuyen sinh cao dang

tuyen sinh trung cap

 

banner ktktld

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

THEO NHU CẦU XÃ HỘI

                                                                                                                                          Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng

Giáo dục theo nhu cầu là có thước đo, xã hội cần đến đâu thì hướng phục vụ đến đấy, không thể tùy tiện, mà có điều kiện rõ ràng. Thị trường lao động hiện tại không hoàn hảo, quan hệ “cung - cầu” không thỏa mãn; bởi vậy, Nhà nước phải vào cuộc, làm vai trò trung gian dự báo nhu cầu xã hội để thúc đẩy kết nối giữa doanh nghiệp (DN) với các trường.

Từ năm 2007, Bộ GD-ĐT bắt đầu khuyến khích các trường triển khai đào tạo theo nhu cầu xã hội. Theo đó “Các trường phải tiến hành rà soát, đánh giá và điều chỉnh lại tất cả các ngành và chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động; đồng thời khảo sát, đánh giá, dự báo nhu cầu nhân lực của địa phương để có thể tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho lao động của các DN”.

Năm 2008, Hội thảo Quốc gia về “HSSV với đào tạo đáp ứng như cầu xã hội, nhu cầu DN” được Bộ GD-ĐT tổ chức tại TPHCM và đầu cầu Hà Nội đã đặt ra vấn đề là: cần có 1 “tam giác cân” giữa nhà trường - DN - HSSV trong việc tạo ra “sản phẩm” đạt yêu cầu.

Nguyên Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long cũng đã khẳng định "Các trường phải dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, tạo các mối liên kết ngang dọc, trên dưới, thường xuyên rà soát chương trình cho phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, phải thành lập Hội đồng trường gồm cả đại diện là DN. Đặc biệt phải điều tra dữ liệu thông tin HSSV sau khi tốt nghiệp để biết hiệu quả đào tạo”.

Thực trạng:Sau hơn 20 năm đổi mới, đào tạo nghề đã có những bước phát triển, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Chưa đẩy mạnh các hoạt động phổ biến kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở mọi trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu của DN.

Hiện nay, số học sinh theo học nghề rất thấp, chỉ có hơn 5% học sinh tốt nghiệp THCS vào học nghề; 30% vào TCCN; trong khi đó, có gần 45% học sinh tốt nghiệp THPT vào ĐH, CĐ. Điều đáng nói là: ngoài 1/3 học sinh TN.THPT vào ĐH,CĐ; 1/3 học nghề, còn lại 1/3 không làm gì cả, hàng năm số này tăng lên hàng trăm ngàn người, tạo ra sự lãng phí lớn cho xã hội. Đặc biệt, tỉ lệ HSSV theo học các ngành gắn với đặc điểm kinh tế - xã hội và thị trường lao động địa phương không cân đối; tâm lý chung lại ngại tiếp nhận đầu vào là học sinh TN.THCS, mặc dù kinh phí đào tạo thấp.

Qua số liệu khảo sát về việc làm của HSSV sau khi tốt nghiệp các chương trình đào tạo cho thấy: chỉ 50% HSSV có việc làm khi tốt nghiệp (trong đó chỉ 30% đúng ngành nghề). Từ nhiều năm nay, ở cấp quốc gia chưa đưa ra được thông tin tin cậy về dự báo thị trường lao động và nhu cầu xã hội của Việt Nam trong một vài năm tới, quan hệ cung - cầu nhân lực vẫn tiếp tục lệch, đặc biệt đối với nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Rõ ràng “Hiện nay, mối quan hệ trường và DN còn lỏng lẻo (cả về trách nhiệm và quyền lợi), nên trên thực tế các trường vẫn chủ yếu đào tạo theo khả năng “cung” của mình chứ chưa thực sự đào tạo theo “cầu” của DN.

Hiện nay có ba nhóm nhu cầu (Nhà nước, DN và người học). Ba nhóm này thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giai đoạn; để có thể đào tạo theo nhu cầu xã hội, trước hết phải dự báo được số lượng theo ngành nghề và trình độ đào tạo ở tất cả các cấp từ quốc gia cho đến các vùng miền và địa phương. Thực tế các ngành khối kinh tế, quản lý chiếm 30% tổng số SV nhưng các ngành khối kỹ thuật công nghiệp thì chỉ chiếm 15% nên cần tập trung vào việc gắn kết giữa đào tạo với các DN trong khối ngành kỹ thuật, công nghệ và du lịch làm mô hình nhân rộng cho các ngành đào tạo khác.

Mặc dù đã có rất nhiều “cái bắt tay” giữa nhà trường và DN trong việc đào tạo nhân lực đáp ứng với nhu cầu thực tế của xã hội, của DN. Tuy nhiên, sự chủ động phối hợp tham gia của DN, đơn vị sử dụng lao động vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực “đủ tiêu chuẩn” còn rất hạn chế; cácDNvẫn"ngại"bắt tay với trường do chưa có ưu đãi hợp lý.

Điển hình nhất là việc thiếu quan tâm của DN, đơn vị sử dụng lao động đến việc thực hành, thực tập của HSSV. Nhiều em cho rằng, trong quá trình đi thực tập thì cái “điều kiện” được tiếp cận với thực tế và cũng là để vận dụng những kiến thức đã được học là không nhiều; đi thực tập nhưng lại tham quan là chính, gây lãng phí thời gian và công sức.

Còn các trường vẫn đào tạo theo khả năng sẵn có của mình, hoặc đào tạo theo dự báo của trường; gây ra hiện tượng thiếu thừa cục bộ về nguồn nhân lực, gây lãng phí không chỉ về nguồn lực nhà nước, tiền bạc của dân mà còn lãng phí về thời gian và cơ hội của người học. Mặt khác, sự chồng chéo và trùng lặp trong đào tạo của hệ thống giáo dục cũng là một nguyên nhân của việc thiếu gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu xã hội, giữa đào tạo ban đầu với đào tạo thường xuyên, giữa đào tạo nâng cao và chuyên sâu.

Theo đánh giá của Bộ GD&ĐT, nhiều trường chưa dựa trên kết quả khảo sát thị trường, phân tích nhu cầu đào tạo, tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo (yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo). Ngoài ra, do nhu cầu của người học rất lớn, nhưng những bất cập trong cơ cấu hệ thống giáo dục về thời gian, hình thức đào tạo, các loại hình trường lớp, chương trình, văn bằng chứng chỉ còn thả nổi khâu quản lý đầu ra; tạo nên sự chồng chéo, trùng lặp trong đào tạo là một trong các nguyên nhân của việc thiếu gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu xã hội.

Để tạo bước đột phá đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Lâm Đồng đã quan tâm hình thành quan hệ hợp tác với DN trong việc ký kết các hợp đồng đào tạo. Tổ chức bồi dưỡng thi nâng bậc thợ, các lớp chuyên đề ngắn hạn về chuyên môn theo hợp đồng đặt hàng các DN trong và ngoài tỉnh. Học và thi chứng chỉ A,B Anh văn, Tin học. Đặt các lớp liên kết, liên thông ở các huyện trong tỉnh.

Liên kết với các trường Đại học mở các lớp liên thông từ TCCN, CĐ lên Đại học nhằm đào tạo một số ngành nghề mà địa phương có nhu cầu nhưng trường chưa có điều kiện mở mã ngành. Bước đầu ký kết bản ghi nhớ hợp tác với các trường Đại học triển khai phát triển kỹ năng nghề ngắn hạn, đặt hàng hỗ trợ đào tạo, NCKH, tạo cơ sở thực tập cho HSSV, tiếp nhận HSSV khi ra trường. Ngoài ra trường còn được UBND tỉnh và Sở GD & ĐT Lâm Đồng cho phép liên kết đào tạo với trường Đại học, mở các lớp sau đại học về quản lý giáo dục, phương pháp dạy học, chuyển ngạch giảng viên...

Tổ chức các cuộc tư vấn tuyển sinh, giới thiệu việc làm, điều tra thăm dò nhu cầu đào tạo nhân các ngày Lễ khai giảng, Bế giảng. Trao đổi, tiếp xúc với các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động, nhằm tìm kiếm nguồn hỗ trợ, đầu tư. Tăng cường công tác nghiên cứu cơ sở dữ liệu về năng lực đào tạo của trường, khảo sát, dự báo sự phát triển nguồn nhân lực của thị trường để định hướng phát triển ngành nghề đúng theo nhu cầu đòi hỏi của xã hội.

Tuy nhiên, việc liên kết, liên thông với các trường đang bị hạn chế; trong khi đó, Bộ GD-ĐT vẫn đang cho phép các trường ĐH mở CĐ, TCCN cùng tư tưởng trọng bằng cấp trong xã hội nên hầu hết HSSV phổ thông đều hướng tới các trường ĐH ở TP.HCM; tỉ lệ vào các trường trong tỉnh rất hạn chế khiến các trường CĐ,TCCN phải chia sẻ “đầu vào”.

Trên thực tế thì các trường vẫn phải “tự thân vận động” là chính, nhà trường phải đáp ứng nhu cầu của HSSV để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Tuy nhiên việc đào tạo phải mất 2 - 4 năm, nên xẩy ra tình trạng HSSV chọn ngành học theo nhu cầu thị trường hiện tại mà không dự báo được sau khi ra trường, điều này dẫn đến dư cung trong các năm sau nếu nhiều HSSV đổ xô vào học một ngành mà đang có nhu cầu cao hôm nay.

Việc thống kê địa chỉ và các thông tin về cựu HSSV thực hiện những cuộc điều tra, khảo sát không dễ dàng, do đa phần HSSV mới ra trường chưa ổn định công tác, vẫn còn tâm lý “nhảy việc” nên ngại thực hiện các phiếu khảo sát. Hơn nữa, SV cao đẳng của trường mới có ba khóa tốt nghiệp nên chưa đủ thời gian để phản ánh đúng chất lượng đào tạo. Hiện nay, trường đang triển khai đề tài nghiên cứu “giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo” nhằm có cái nhìn tổng quan về đào tạo của trường những năm qua.

Quan điểm DN cần gì thì đào tạo theo cái đó, nhưng cái hiện cần thì ngày mai lại khác đi nên đào tạo phải đón đầu. Hiện nay, ở trường cũng đã chủ động tổ chức hội thảo với DN để cho HSSV thực tập, có cơ hội tìm được việc từ các DN đó và điều chỉnh thực hành để đáp ứng sản xuất. Tích cực tham gia “hiệp hội các trường Kinh tế - Kỹ thuật VN” để tổ chức này đại diện cho các trường có cùng ngành, nhóm ngành làm cầu nối trung gian giữa Nhà nước, các nhà DN và cộng đồng giáo dục quốc tế nhằm thúc đẩy việc đào tạo theo nhu cầu DN và xã hội. Giúp các trường có được sự đồng nhất trong quá trình điều chỉnh chiến lược đào tạo, khắc phục được tình trạng “phân mảnh”, mỗi trường làm mỗi kiểu.

Định hướng và các giải pháp: Đào tạo theo nhu cầu xã hội: Cần 1 “tam giác cân”, là ưu tiên hàng đầu, chuyển mạnh từ “cung” sang “cầu”; đẩy mạnh hợp tác với các DN.

Bộ GD-ĐT:Thành lập cơ quan dự báo, xây dựng cơ chế chính sách năng động để thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Tăng cường cơ chế hợp tác giữa nhà trường và nhà tuyển dụng. Xây dựng danh mục nghề và các tiêu chuẩn nghề nghiệp; nới lỏng chương trình khung, tạo điều kiện để nhà trường chủ động trong việc bố trí thời lượng và thuê các kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân giỏi để tham gia đào tạo kỹ năng cho sinh viên.

Trao nhiều quyền tự chủ cho các trường; đồng thời ưu đãi thuế cho DN đầu tư đào tạo (động cơ mạnh) và giám sát chặt chẽ (phanh ăn) sẽ thúc đẩy quá trình đào tạo nhân lực theo nhu cầu. Tạo cơ chế mở, chuyên biệt, quy định mức học phí gắn với DN, tạo động lực thắt chặt mối quan hệ giữa DN và nhà trường. Xây dựng trung tâm dự báo và hỗ trợ đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực. Đây là các đơn vị "khám chữa bệnh" của ngành giáo dục.

Ngoài ra, nhà nước sớm có chủ trương mạnh để xúc tiến thực thi đào tạo theo nhu cầu:

Thứ nhất là từng DN không thể dự báo được nhu cầu nhân lực của ngành mình và đưa thông tin đó cho các trường và từng trường cũng khó dự báo được. Do đó, Nhà nước phải làm việc dự báo nhu cầu nhân lực và đem thông tin chuyển giao cho các trường.

Thứ hai là trong quá trình triển khai, các trường cũng cần Nhà nước sử dụng sức mạnh tài chính để phối hợp, hỗ trợ kinh phí.

Thứ ba là tạo điều kiện để 2 bên gặp gỡ nhau. Hiện nay, không có cơ hội để các DN và cơ sở đào tạo gặp nhau trên diện rộng, có thể trao đổi sâu về từng ngành nghề nhằm dự báo tổng thể nhu cầu sắp tới ra sao và làm thế nào để đáp ứng nhu cầu đó.

Cuối cùng là, địa phương và DN cần coi trọng chính sách liên kết với các trường trong công tác hỗ trợ, tạo điều kiện thực tập cho CN.

Muốn thực hiện tốt mục tiêu “đào tạo theo nhu cầu xã hội” thì ba nhà bao gồm: nhà nước, nhà trường, nhà DN… phải ngồi lại. Trong đó, tính chủ động của nhà trường vẫn là quan trọng nhất, nhà nước tạo chính sách thông thoáng, phù hợp để nhà trường thực hiện nhiệm vụ của mình và nhà DN được đề cập ở mức độ hỗ trợ chi phí cho đào tạo.

Các trường: Thâm nhập thực tế, tìm hiểu nhu cầu của các DN và tạo mối liên lạc thường xuyên với DN, đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp cho HSSV. Phải tìm được tiếng nói chung cùng DN qua việc thiết lập quan hệ hợp tác, hỗ trợ đào tạo để rút ngắn khoảng cách trong hoạt động đào tạo, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động với yêu cầu của DN.

Bên cạnh đó, cần thành lập các trung tâm dịch vụ, giới thiệu việc làm và theo dõi HSSV sau khi tốt nghiệp, có liên hệ chặt chẽ với cơ quan dự báo nhu cầu xã hội cấp địa phương và cấp quốc gia góp phần phân luồng sau THCS và THPT đi theo các con đường học vấn khác nhau nhưng vẫn có thể thành công trong tương lai. Mời DN tham gia vào công tác giảng dạy và góp ý về chương trình đào tạo. Việc đào tạo ra những “sản phẩm” đáp ứng nhu cầu của xã hội, DN cũng chính là đáp ứng nhu cầu của HSSV; vì thế, không chỉ DN hay sự nỗ lực của HSSV là đủ, các GV phải tự cập nhất kiến thức, kỹ thuật mới.

Đơn vị sử dụng lao động: Cùng các trường tham gia đào tạo, không đơn thuần là “bỏ tiền” cho các trường mà các DN nên cùng tham gia vào quá trình đào tạo và tái đào tạo lao động. Không chỉ đơn giản sử dụng “sản phẩm” mà cũng phải cùng với trường đóng góp ý kiến cho chương trình đào tạo được tốt hơn, mở các seminar chuyên sâu cho HSSV.

Đồng thời, tham gia vào công tác giảng dạy và góp ý về chương trình đào tạo, chất lượng HSSV ra trường và kỳ vọng với các “sản phẩm” của nhà trường. Nếu DN tự tổ chức dạy nghề, cần được hưởng những chính sách chung về chi phí đào tạo theo quy định của Nhà nước. Ngược lại, nếu DN không tự đào tạo, cần đóng góp kinh phí cho đào tạo.

Giải pháp:Từng bước xây dựng các công cụ giám sát, đánh giá nhằm duy trì và nâng cao tốc độ phát triển nhà trường. Đánh giá chất lượng đầu ra, tiếp tục thu thập các dữ liệu giám sát như: Sự tiến bộ của người học; tỷ lệ tốt nghiệp và bỏ học; phản hồi có tổ chức từ thị trường lao động, từ cựu HSSV,khả năng được tuyển dụng. Đồng thời, thu thập các dữ liệu đánh giá: về sự hài lòng của HSSV; môn học, khóa học, các dịch vụ hỗ trợ HSSV nhằm phản ánh được chất lượng đào tạo nói chung và nhu cầu thực tế của nhà tuyển dụng đối với HSSVtốt nghiệp của trườngthông qua khảo sát, phỏng vấn,thống kê, phân tích, đánh giá, so sánh hàng năm.

Để đạt được mục tiêu của GDĐH là giáo dục trình độ chuyên môn, kỹ năng thực hành, giao tiếp, sáng tạo, giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng với môi trường, khả năng tự học, nghiên cứu… phải “xã hội hoá” quá trình đào tạo, hợp tác và lôi cuốn được các đối tác tiềm năng trong xã hội, đặc biệt là các DN và người sản xuất, cùng tham gia vào quá trình đào tạo, làm cho người học gần hơn với môi trường mà họ sẽ làm việc và học được những gì mà sau khi ra trường họ cần sử dụng. Chú trọng khắc phục hiện tượng “cái trường có thì xã hội không cần, cái xã hội cần thì trường không có” hay trường “đơn phương” đào tạo, còn DN lại đứng ngoài cuộc, chỉ biết “tuyển chọn” sản phẩm có sẵn để rồi lại “phê phán” nhà trường đào tạo không sát với nhu cầu. Thực tiễn cho thấy, bản thân các DN cũng không muốn kéo dài tình trạng đó; ngược lại, họ sẽ rất sẵn sàng sát cánh tham gia một khi họ có cơ hội, nhất là đối với con em nông dân - một đối tượng của quá trình đào tạo vốn đã chịu quá nhiều thiệt thòi.

Trong nhiều năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo đã được cả xã hội quan tâm và nó đang bước đầu được thể hiện ở những hành động cụ thể; Cơ hội phát triển của nhà tr­ường cũng có nhiều thuận lợi (các khu công nghiệp, du lịch trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên… đã và đang hình thành phát triển). Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đào tạo, những điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của Nhà trường, xin đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội như sau:

1. Điều tra khảo sát nhu cầu lao động thực tế tại các DN để có định hướng xác định nhu cầu tuyển sinh và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề đào tạo. Gửi phiếu khảo sát nhu cầu đến các DN; tổ chức hội thảo, giao lưu với các DN hàng năm. Phỏng vấn trực tiếp người sử dụng lao động, cử cán bộ đi tham quan học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị đào tạo khác. Bên cạnh đó việc tổ chức quảng cáo, giới thiệu về hình ảnh, quy mô, ngành nghề đào tạo tới các trường phổ thông để xác định nhu cầu học tập.

2. Phân loại thành từng nhóm đối tượng để có kế hoạch đào tạo sao cho đem lại hiệu quả và chất lượng, điều chỉnh chương trình trên cơ sở những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất mà người học cần phải có sau khi ra trường; xác định mục tiêu đào tạo, nội dung, cơ cấu tỷ lệ lý thuyết, thực hành phù hợp với yêu cầu thực tế, không bị chồng chéo. Để đáp ứng nhanh và kịp thời nhu cầu thị trường, nhà trường cần có quyền chủ động quyết định trong việc lựa chọn ngành đào tạo;

3. Áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, tăng cường tổ chức thảo luận, làm bài tập nhóm để giúp HSSV làm quen với các phương pháp NCKH. Nâng cấp CSVC, thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá để đáp ứng yêu cầu đào tạo toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Thường xuyên tổ chức hội giảng để GV trau rồi rèn luyện kỹ năng sư phạm. Có quy chế ưu tiên, ưu đãi trong tuyển dụng GV đảm bảo cơ cấu về chuyên môn theo các ngành nghề cân đối; tạo điều kiện cho GV được đi thực tế tại các DN, các cơ sở đào tạo ở trong và ngoài nước. Việc đề bạt, bố trí sử dụng cán bộ, nhất là trình độ sau đại học phù hợp với năng lực, yêu cầu công tác và mức độ cống hiến.                            

4. Cùng với đầu tư trang thiết bị dạy học, các công trình phụ trợ như nhà đa năng, thư­ viện, cần cải tạo nâng cấp số phòng học hiện có đáp ứng quy mô đào tạo. Tập trung xây dựng uy tín và thương hiệu từ nay đến năm 2020; đào tạo chuẩn theo hình thức tín chỉ và xúc tiến việc liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài (các trình độ).

5. Khuyến khích các đơn vị chuyên môn (trung tâm, khoa) đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các cá nhân, đơn vị ngoài trường, theo nguyên tắc “Tôn trọng, bình đẳng đôi bên cùng có lợi”, không làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và hoạt động nhà trường. Tiếp tục nhờ các chuyên gia cộng tác với trường thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu./.

Copyright © 2016 Trường Cao Đẳng Kinh Tế - Kỹ Thuật Lâm Đồng
Số 39  Trần Phú - Phường 4 - Đà Lạt - Lâm Đồng